Chủ Nhật, 25/05/2008, 22:30 GMT+7
Những phát hiện khoa học kỳ lạ về Khổng Minh
Trong khoa học, kỹ thuật, tạo ra
được một chuyển động vĩnh cửu là một công việc dường như không thể. Để
một vật chuyển động, nó bắt buộc phải chịu một lực tác động từ bên
ngoài. Chính vậy mà vào đầu thế kỷ hai mươi, khi bộ tiểu thuyết lịch sử
Tam Quốc Diễn Nghĩa được dịch ra tiếng Anh, nó đã tạo ra một chấn động
trong làng khoa học thế giới. Các nhà khoa học đọc đi đọc lại những
sáng chế của Khổng Minh nhưng không thể hiểu nổi. Nhiều người nghi ngờ
bản dịch nên đã cố công học tiếng Hán để nghiên cứu nguyên tác nhưng
vẫn không tìm thấy các bí mật ở trong đó. Những người nản chí thì cho
đó là những tưởng tượng của nhà văn. Nhưng có khá nhiều người vẫn còn
tin vào khả năng thần kỳ của nền kỹ thuật Trung Quốc và tin vào nhận
định: tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa là một tác phẩm lịch sử có tới bảy
phần thực.
Khổng Minh là một nhân vật mưu
lược, quyền biến, trung thành và đặc biệt có những khả năng được người
dân Trung Quốc tôn sùng như một vị thánh.Trong những trận đánh liên
miên từ khi Lưu Bị còn chưa có đất dụng võ cho tới khi thiên hạ (nước
Trung Hoa xưa) chia thế chân vạc, Khổng Minh đã thể hiện bản lĩnh của
một vị quân sư, một vị tướng hiểu thời, hiểu thế và do vậy, hầu như ông
không có đối thủ thực sự trên chiến trường. Cho đến gần cuối đời, Khổng
Minh mới gặp một địch thủ thực sự cho dù người này luôn nhận mình kém
cỏi so với ông. Đó chính là Tư Mã Ý, người đã đặt nền tảng thống nhất
đất nước Trung Hoa cho con trai mình.
Trong cuộc
đấu sức, đấu trí với Tư Mã Ý, Khổng Minh đã để lại cho hậu thế hai “bí
kíp” lớn nhất về sự sáng chế khoa học. Đó là phép “rút đất” và những
con trâu ngựa gỗ có thể tự động vận chuyển lương thực. Ngày nay, các
nhà nghiên cứu đã chứng minh được nền khoa học kỹ thuật phát triển rất
cao của người Trung Hoa cổ. Vậy nếu như khôi phục được hai “bí kíp” kia
thì đó là một điều thần kỳ đối với cuộc sống nhân loại.
Trong
một trận chiến, để dụ tướng giặc, Khổng Minh ngồi trên xe nhỏ bốn bánh
được quân lính đẩy ra giữa trận. Tướng giặc thấy vậy, cáu tiết đuổi
theo bắt cho kỳ được. Khổng Minh truyền quay xe và chạy. Ba phía khác
lần lượt xuất hiện một cái xe y như thế với Khổng Minh khăn áo là
lượt.(Đó chính là ba viên tướng đóng thế Khổng Minh) Tướng giặc liền
nhằm một cỗ xe và đuổi riết. Chiếc xe do người đẩy chỉ chạy chầm chậm
nhưng quân giặc với đàn ngựa chiến không sao đuổi được. Càng đuổi,
chiếc xe càng chập chờn trước mắt. Đuổi nhanh, xe chạy nhanh, đuổi
chậm, xe chạy chậm lại. Và tất nhiên, tướng giặc không thể bắt nổi
chiếc xe đó. Xét về tốc độ thì một chiếc xe bốn bánh do người đẩy không
thể chạy nhanh bằng nước phi của một con ngựa chiến được.
Hiển
nhiên trong chuyện này phải có một yếu tố "kỹ thuật" nào đó. Các nhà
khoa học nghiên cứu một hồi cũng không thể đưa ra một giả định hay hơn
các nhà nghiên cứu quân sự được. Họ cho rằng, cuộc chiến giữa hai bên
diễn ra ở vùng núi Kỳ Sơn rất hiểm trở và rừng rậm um tùm.
Khổng Minh lại là một người ưa
dùng nghi binh và dùng “tà pháp” đánh vào tâm lý của đối phương nên
phép "rút đất” được lý giải như sau: Do chiếc xe bốn bánh dùng sức
người đẩy chắc chắn không thể sánh với tốc độ của ngựa chiến được mà
ngựa chiến vẫn không đuổi kịp là vì hai điều: thứ nhất; chiếc xe không
có thực trên cùng một đường chạy, thứ hai, có nhiều chiếc xe giống nhau
tham gia vào phép “rút đất" này. Mặc dù người Trung Hoa đã sử dụng
gương hay những mặt đồng tạo hình ảnh từ rất sớm nhưng nếu cho rằng
Khổng Minh đã dùng gương tạo ra một ảo ảnh trên đường chạy là một điều
hoang đường. Bởi vì nếu Khổng Minh có thể sử dụng kỹ thuật phản chiếu
qua gương như vậy thì ông cần gì phải bố trí ba tướng khác đóng giả y
hệt mình ở ba góc trận.? Loại trừ khả năng này, chúng ta đến với khả
năng thứ hai.
Khổng Minh là một người đặc biệt nhạy cảm về địa
thế chiến trường. Với ông, nếu tận dụng được địa thế thì một dòng suối
cũng nhấn chìm được cả đoàn quân. Chúng ta thử hình dung trận địa diễn
ra ở những sườn núi, sườn đồi mấp mô. Do đó, tầm mắt của đối phương bị
che lấp liên tục. Khổng Minh đã dùng các tướng đóng giả mình và phục
sẵn ở lưng chừng các mỏm núi có rừng bao phủ. Câu chuyện diễn ra từa
tựa như truyện cổ tích lũ rùa tinh khôn chạy thi với thỏ. Khi tướng
giặc chạy lên điểm cao thì nhìn thấy chiếc xe, nhưng khi chạy xuống
lòng chảo (dù rất nhỏ) viên tướng đó cũng sẽ mất tầm nhìn trong một
đoạn thời gian. Đoạn thời gian này đủ để chiếc xe ấy lẩn vào rừng cây
và chuyển vào một vị trí định sẵn. Khi tầm nhìn của tướng giặc mở ra,
viên tướng đó sẽ lại thấy một chiếc xe khác y nhệt như thế xuất hiện.
Do
đã nắm chắc địa thế và lại là người chủ động khiêu khích giặc nên Khổng
Minh đủ sức bố trí phép “rút đất” như vậy. Ở đây có một câu hỏi lớn đặt
ra là ông đùa giỡn với tướng giặc thế làm gì khi ông có thể tóm gọn kẻ
thù trong lúc viên tướng đó sa vào thế trận của ông. Chúng ta nên nhớ
rằng, Khổng Minh chỉ có chưa đến mười vạn quân so với vài chục vạn quân
Ngụy. Hơn nữa, trước khi ra Kỳ Sơn đánh Ngụy, Khổng Minh phải để lại
một số lượng lớn quân để giữ nước. Lực lượng của Khổng Minh chỉ bằng
một phần nhỏ của quân địch. Chính vậy nên Khổng Minh đã dùng cách này
để "hù doạ” quân địch. Có lẽ sự thật về phép “rút đất” từng làm bao
nhiêu nhà quân sự, nhà khoa học và độc giả phải đau đầu nằm trong câu
chuyện cổ tích của người Việt: Rùa chạy thi với thỏ.
Trong
chiến tranh, lương thực tiếp tế cho các đoàn quân là điều kiện sống
còn. Do địa hình vùng núi Kỳ Sơn rất phức tạp, dốc đá hiểm trở nên việc
vận chuyển lương thực vô cùng khó khăn. Tư Mã Ý có lý khi cho rằng chỉ
cần không ra đánh, cứ cố thủ, quân của Khổng Minh hết lương thực tất
phải tự vỡ. Quả nhiên quân Thục gặp những rắc rối về việc vận chuyển
lương thực. Do địa hình quá là hiểm trở nên những con ngựa kéo xe rất
nặng nề và thường xuyên chết cả đàn vì chướng khí. Khổng Minh gọi thợ
lấy gỗ và vẽ mẫu để làm trâu ngựa gỗ. và thật lạ lùng, những con trâu
ngựa gỗ ấy kéo xe lương thực đi như không trên những sườn núi cao. Nếu
con người hiện đại biết được cách chế tạo trâu ngựa gỗ thì chúng ta sẽ
tiết kiệm được bao nhiêu năng lượng.
Tuy nhiên nhiều người cho rằng Khổng Minh
đã phù phép để cho các con vật bằng gỗ ấy cử động được. Có một “chứng
cứ khoa học” rằng khi Tư Mã Ý thấy vậy liền cho quân bắt lấy một con
mang về tháo rời ra. Tư Mã Ý cũng là một nhà kỹ thuật đại tài nên ông
bắt chước y như đúc các kích thước của con trâu gỗ và tạo ra được cả
một bầy dùng để kéo xe. Như vậy cấu tạo đặc biệt của trâu ngựa gỗ đã
tạo ra hành động của chúng. Nhưng chúng ta đều biết những con trâu ngựa
gỗ đó không thể tự tạo ra một bộ máy chuyển động vĩnh cửu để hoạt động
được.
Yếu tố ngoại lực chắc chắn phải xuất hiện, nhưng nếu đẩy
nó như đẩy xe thì tội gì phải chế tạo trâu ngựa gỗ cho thêm rắc rối.
Trâu ngựa gỗ giúp cho quân lính chuyên chở lương thực rất nhẹ nhàng, do
đó nó ưu việt hơn nhiều là phải đẩy một cái xe. Các nhà nghiên cứu quân
sự trở lại với địa thế hiểm trở của những ngọn núi Kỳ Sơn. Để vận
chuyển lương thực, những đoàn xe đó tất nhiên phải đi men theo các sườn
núi đá. Những con đường mấp mô, gập ghềnh khi lên cao khi xuống thấp.
Đây chính là địa thế dành cho trâu ngựa gỗ. Trong khớp nối ở mỗi ống
chân gỗ, người thợ sẽ tiện một đĩa gỗ tròn sao cho cơ thể con trâu có
thể trượt về đằng trước hay trượt về đằng sau một khoảng bằng bán kính
của đĩa gỗ. Như vậy nếu đứng trên một mặt phẳng thì con trâu hoặc là
chúi về phía trước hoặc là trượt về phía sau chứ không thể đứng thẳng
được. Tất cả các khớp nối của bốn chân con trâu, con ngựa đều tuân thủ
nguyên tắc này. Khi mang các bao lương thực trên lưng, sức nặng ấy sẽ
tạo ra một lực đẩy rất mạnh hoặc về phía trước hoặc về phía sau.
Trên
địa hình mấp mô, gập ghềnh, sau khi trọng lượng lương thực "dúi” phần
lưng nó về phía trước, theo con trượt, lưng nó sẽ lại trở lại phía sau
theo đà lắc. Nhưng nếu như thế thì chúng vẫn chưa thể đi được, nhất là
khi đà dốc chỉ đủ "dúi” nó tới gần đỉnh cao nhất của dốc đá lồi lõm
trên đường. Mặc dù có địa thế lồi lõm như thế, để có thể đi được, những
con trâu ngựa gỗ đó vẫn cần một ngoại lực nào đó. Điều này một lần nữa
được hé mở qua bộ phận lưỡi của chúng. Khi Tư Mã Ý dùng trâu ngựa gỗ
chuyển lương thực, Khổng Minh đã cho quân của mình bôi mặt giả làm quỷ
để doạ quân Ngụy.
Để cướp lương thực, quân Thục chỉ cần tháo
lưỡi của trâu ngựa gỗ là chúng không đi được. Như vậy ngoại lực sẽ
truyền qua lưỡi và tác động lên các trục tròn qua những thanh sắt
"chuyển lực”. Bộ khung sắt lnày nằm kín trong bụng trâu ngựa gỗ và nó
được kéo quay tròn như thể một cái guồng nước. Nó có bốn thanh chính.
Khi thanh thứ nhất và thanh thứ hai quay làm cho chân trước và chân sau
phía bên kia của con trâu “trượt” về phía trước thì hai thanh còn lại
"gạt” hai chân còn lại về phía sau, tạo ra một chuyển động nhịp nhàng.
Đặc biệt chuyển động này tận dụng tối đa sự "xuống dốc, lên dốc” của
mặt đường gập ghềnh. Như vậy, các nhà khoa học hiện đại kết luận, chắc
chắn sợi dây "dắt” trâu ngựa gỗ sẽ được buộc vào lưỡi của chúng. Một
hoặc hai người lính sẽ “dắt” trâu bằng cách kéo nhẹ vào dây khi đà lăn
gần hết, để tiếp tục tạo cho chúng một đà lăn mới.
Trên
lý thuyết, các nhà phân tích “giải mã” được cấu tạo của những con trâu
ngựa gỗ. Tuy nhiên chưa có ai làm thực nghiệm. Điều này có thể vì nhiều
lý do nhưng lý do lớn nhất là, những con trâu ngựa gỗ (như trên) nếu có
thể chế tạo được thì cũng không mang lại ích lợi cho con người bởi vì
hệ thống giao thông hiện nay đã quá hiện đại và rất khó có thể tìm thấy
những con đường lồi lõm dù ở cả những miền núi cao./
Lê Cung Hoàng
phamlai ( theo vntimes )