Chủ Nhật, 25/05/2008, 22:29 GMT+7
Khổng Minh có biết Lưu Bị không tin mình?
Vào năm Kiến Hưng thứ nhất, Gia Cát
Lượng sớm đã “lập phủ quản chính sự, không lâu sau, lĩnh quản Ích
Châu”, từ sau đó “chính sự không phân lớn nhỏ đều thu về mối Lượng
quyết cả”. Là Thượng Thư lệnh chỉ xếp sau Gia Cát Lượng, lại là một
trong hai trọng thần được gửi gắm, Lý Nghiêm chỉ được cái danh hão
Quang Lộc Huân, lại bị điều đi Giang Châu xa xôi, hậu quả thực sự của
việc này đã dẫn tới việc vắng bóng hoàn toàn vai trò của Lý Nghiêm
trong một chiến dịch quân sự lớn như cuộc Bắc phạt lần này.
|
|
|
Chúng ta có thể phát hiện được rằng, Gia
Cát Lượng đề xuất một khi ông ta đi khỏi Thành Đô thì hậu chủ “thị
trung, thị lang Quách Tu Chi, Phí Vĩ, Đổng Duẫn thảy đều dùng được, chí
khí trung thuận, được tiên vương di chiếu lại phụng sự bệ hạ. Ngu thần
đem những việc trong cung không phân lớn nhỏ đều nghe xét ý quần thần
rồi đem thi hành tất có thể bổ khuyết chỗ bất túc , có ích lắm lắm...”,
hết thảy số ấy không trừ một ai là cốt cán của tập đoàn Kinh Sở, không
có bất cứ một nhân sỹ nào của Đông Châu hay Ích Châu. Đặc biệt là Lý
Nghiêm, là trọng thần được gửi gắm ngang cơ Gia Cát Lượng như thế,
“thống lĩnh việc quân trong ngoài”, Thượng thư lệnh đương triều vậy mà
trong kế hoạch Bắc phạt đại sự liên quan tới quốc kế dân sinh này lại
không hề có cơ hội lên tiếng.
Khi Gia Cát Lượng không ở đó,
theo lí mà xét cũng phải do ông chủ trì chính trị trong triều vậy mà
trong biểu chương xin đi Bắc phạt, thu xếp nhân sự chủ trì công việc
trong triều sau khi đi Bắc phạt của Gia Cát Lượng lại không hề nhắc một
chữ nào tới Nghiêm. Dù xét từ khía cạnh nào, đây cũng là một việc không
bình thường. Cái Gia Cát Lượng gọi là “thân với hiền thần” thì những
nhân sỹ trong tập đoàn Kinh Sở như Quách Du Chi, Phí Vĩ, Đổng Duẫn,
Hướng Sủng … tuy quả là hiền thần thực nhưng nói đi thì nói lại, Lý
Nghiêm, Phí Quan, Hà Tông, Vương Mưu (6)… chẳng lẽ không phải là hiền
thần hay sao. Hơn thế họ cũng không là đại thần được gửi gắm thì cũng
là đại thần phẩm cấp cửu khanh, chỉ xét về thứ bậc thôi cũng đã cao hơn
nhiều những vị thị trung, thị lang. Không nêu ra họ nói tình nói lý gì
cũng chẳng thông, cho nên Gia Cát Lượng làm vậy chắc chắn không phải là
ngẫu nhiên.
Trong lòng Gia Cát
Lượng, ông ta trước sau gì đều đặt mình ở vị trí tối thượng, coi thường
người khác, luôn cho rằng Thục Hán đến khi ông ta “ngày không còn thân
này nữa thì khó lòng bước tới Trung Nguyên, tranh hùng cùng nước lớn”
(7). Cũng có lý do để tin rằng ông ta nắm rất rõ mục đích của Lưu Bị
xếp Lý Nghiêm cùng ông ta phò tá Lưu Thiền là để lợi dụng Lý Nghiêm mà
chế ước ông ta. Do vậy, để đảo bảm sự thao túng của ông ta trong chính
quyền Thục Hán, ông ta quyết không cho phép người có thể uy hiếp mình
về mặt chính trị như Lý Nghiêm bước vào trung tâm quyền lực và nắm thực
quyền quân sự. Đó là vì sao ngoài việc ông ta luôn ngăn trở Lý Nghiêm
vào Thành Đô, ông ta đã sớm ra tay dấn thêm một bước nữa làm giảm thực
quyền của Lý Nghiêm trước khi Bắc phạt.
|
Đây là những lời một người chấp pháp nghiêm
minh có thể nói ra miệng được thật quả là miệng lưỡi của kẻ tự tư tự
lợi ngang ngược. Trong việc này, phản ứng và cách xử lý của Gia Cát
Lượng cùng với những phẩm chất cùng phong cách “một lời thưởng phạt
cũng đầy trách nhiệm” vẫn được người ta tôn sùng đã sai khác với nhau
quá xa. Nhưng tôi cho rằng đó mới là khuôn mặt thật của ông ta. Bởi ở
ông ta, những điều gọi là quốc pháp, quân pháp có cần chấp hành hay
không thuần tuý chỉ được quyết định bởi tầm quan trọng của đối tượng
phải chấp hành và hơn thế là xem xem nó có hàm chứa nhu cầu chính trị
cho việc thực hiện hay không chứ không hề phụ thuộc vào đối tượng đó có
điều thất thố hay hành vi sai phạm nào không. Do vậy tôi mới nói rằng
chuyện Mã Tốc được sống hay phải chết, Gia Cát Lượng nếu muốn thì hoàn
toàn đủ năng lực và quyền lực để Tốc không phải chết. Nhưng ông ta cũng
không phải vì hình tượng chấp pháp nghiêm minh của mình, chỉ cần xem
cái thái độ và cách xử lý đối với kẻ “giết hại huỷ hoại vô số người”
như Pháp Chính cũng đủ biết rõ con người ông ta rồi.
Là mưu sĩ qua
lại mật thiết với Gia Cát Lượng lại trụ chân lâu dài giữa trung tâm
quyền lực, quen thuộc với thế cục cùng từng sự việc trong chính trị
quân sự Thục Hán, Mã Tốc tất nhiên biết những hậu quả của thất bại này
về chính trị và quân sự. Ông ta cũng hiểu quá rõ kết quả này sẽ nguy
hại ra sao cho Gia Cát Lượng cũng như toàn bộ tập đoàn Kinh Sở, lại
càng hiểu rõ con người Gia Cát Lượng. Tôi tin rằng đó mới là nguồn cơn
chính của việc ông ta sợ tội mà tìm đường đào tẩu. Do vậy trong ngục
ông ta mới viết một bức thư cho Gia Cát Lượng thế này: “Cái nghĩa thâm
cùng giết Cổn rồi hưng Vũ (tích xưa cha Vũ là Cổn được vua Nghiêu sai
đi trị thuỷ nhưng không thành công nên bị vua Thuấn giết. Vũ kiên trì
dốc lòng huy động vật lực sức lực hoàn thành cho bằng được –ND), để
công lao thuở bình sinh không bị uổng phí, Tốc này dù có chết cũng
không oán hận chi chúa công” (12). Ông ta viện dẫn điển cố “giết Cổn
rồi hưng Vũ”, lại dùng các cách nói “để công lao thuở bình sinh không
bị uổng phí” một mặt cho thấy ông ta thừa nhận mình có tội, mặt khác rõ
ràng cũng bày tỏ ông ta mong trong tình hình khó lòng may mắn được
thoát tội như hiện nay có thể để ông ta tự mình gánh chịu hậu quả, giúp
Gia Cát Lượng tránh được những đối thủ công kích, tiếp tục nắm giữ cục
diện chính quyền Thục Hán.
Nhờ vậy chúng ta có thể
hiểu rõ hơn việc vì sao Gia Cát Lượng không màng tới lời khuyên ngăn
của những người như Tưởng Uyển, thậm chí còn trừng phạt những người như
tham quân Thừa tướng Lý Mạo khuyên ngăn ông ta đừng giết Mã Tốc. Ông ta
kiên quyết đòi giết Mã Tốc, còn có thái độ rõ ràng là sợ việc giết hại
không thành. Thực sự thì mối quan hệ giữa Gia Cát Lượng với anh em Mã
Lăng – Mã Tốc cũng là quan hệ nòng cốt của tập đoàn Kinh Sở, thân mật
như anh em thường ngày, nếu ông ta quả thực vì yêu cầu của chính pháp
mà đành phải ra tay giết Mã Tốc thì ông ta phải cảm kích những người
khuyên ông ta không nên giết Mã Tốc mới phải. Nhưng thực tế ông ta
không cảm kích gì những con người ấy mà thậm chí có thể nói là biểu lộ
thái độ căm ghét và không ngần ngại tìm cách xử phạt:
“Mã Tốc đại bại ở trận
tiền, Lượng đem giết bỏ, Mạo Cáp lấy lời “Tần tha Mạnh Minh, rồi dùng
để quản Tây Nhung, Sở giết Tử Ngọc, hai đời sau không mạnh lên được ”
thất ý Lượng, bị phạt” (Tam quốc chí, Thục thư...)
Điều này
đã chứng tỏ vào lúc ấy ông ta rất cần Mã Tốc chết, nếu không đã không
căm ghét những người khuyên ngăn đến mức ấy. Từ đó ta thấy ông ta kiên
quyết giết Mã Tốc, khi phán quyết Mã Tốc tội tử hình lại “vì hắn mà đổ
lệ”, sau khi Mã Tốc chết lại “tự giam mình, chăm sóc con Tốc như con”,
không chỉ thể hiện mối thâm tình của mình với anh em họ Mã mà còn có
nguyên nhân chính trị sâu xa, ngần ấy nguyên nhân khiến ông ta không
giết Mã Tốc không xong nhưng vẫn lo sợ không giết được.
Trên thực tế, tội
trạng thực sự có thể khiến Mã Tốc phải chết vẫn là việc Mã Tốc sợ tội
đào tẩu. Nhưng kỳ lạ là, trong biểu chương Gia Cát Lượng thỉnh tội tự
giáng chức thì không có lấy một chữ nào nhắc tới việc này, âu đấy cũng
là cái cao tay của Gia Cát Lượng.
Vì Gia Cát Lượng lúc bấy
giờ cần Mã Tốc gánh hết những trách nhiệm chủ yếu của cuộc Bắc phạt
thất bại, nếu Mã Tốc vì sợ tội đào tẩu mà bị xử chết rõ ràng trong vụ
thất bại kia thì trách nhiệm của Gia Cát Lượng lại càng phải lớn hơn
nữa. Điều này so với những gì ông ta xin tự trừng phạt mình rõ ràng là
đã giảm nhẹ đi quá nhiều, không đủ để làm yên sóng gió chính trị vì vụ
này mà đang bùng lên căng thẳng bất lợi cho ông ta, vậy nên ông ta mới
không nhắc tới việc ấy. Kết cục như vậy vẫn là ông ta thành công trong
việc dựa vào cái chết của Mã Tốc để tạm thời hoá giải được những nguy
cơ lần này đối với địa vị chủ đạo của bản thân ông ta cùng tập đoàn
Kinh Sở trong chính quyền Thục Hán.
Những giọt nước mắt Gia
Cát Lượng khóc Mã Tốc, tôi thấy hoàn toàn không giống gì những điều
người ta vẫn ca tụng cho rằng Gia Cát Lượng chấp pháp nghiêm minh hơn
cả Tôn Vũ, là bằng chứng cho thấy ông ta có phẩm cách đạo đức cao
thượng. Ngược lại, nếu liên hệ với những sự việc ông ta dung túng, biến
tướng ủng hộ Pháp Chính giết người tràn lan để xem xét thì lại cho thấy
ông ta tự cao tự đại, là con cáo già về chính trị, là một quyền thần
chỉ một tay che lấp cả bầu trời trên chính trường.
Gia Cát Lượng tuy hi
sinh mạng Mã Tốc để tạm thời thoát được những nguy cơ về chính trị và
quân sự nhưng ông ta không thu được thành quả quân sự nào, lại cũng
chẳng củng cố được địa vị của mình về chính trị. Nghiêm trọng hơn, ông
ta không những không chứng minh được năng lực quân sự của bản thân mà
còn trao cho Lý Nghiêm, những đối thủ dày dặn chiến công quân sự, những
lão tướng trong quân đội như Nguỵ Diên, Ngô Nhất một dịp ghi nhận gót
chân Asin về khả năng quân sự của ông ta. Do vậy mục đích của lần Bắc
phạt lần này của ông ta không đạt được, thậm chí về chính trị có thể
nói đã hoàn toàn thất bại và bị thụt lùi một bước dài.
Thất bại đã được ghi tạc
ấy khiến Gia Cát Lượng phải tiếp tục tiến hành Bắc phạt để thoát khỏi
thế cục này, xuất phát từ cả nhu cầu phán đoán chiến lược chính quyền
Thục Hán lẫn nhu cầu chính trị của bản thân ông ta. Bắc phạt tuy do Gia
Cát Lượng chủ động khởi xướng nhưng thất bại Nhai Đình lại đã khởi động
cỗ xe chiến tranh mà ông ta cũng không thể kìm nó lại được, khiến cho
ông ta dù muốn hay không cũng phải theo đuổi nó. Nhưng cầm lái cỗ xe
Bắc phạt này xông về phía trước đẩy số mạng chính trị sau này của mình
gắn chặt vào Bắc phạt. Cốt lõi của vấn đề là ở chỗ ông ta thực quả là
một tay lái cự phách, tuy cỗ xe Bắc phạt đã không thể ghìm dừng lại
được nhưng ông ta vẫn có thể điều khiển phương hướng của nó. Nhờ đó nó
khiến ông ta rốt cục tuy không thể thành công cũng vươn tới tột đỉnh
huy hoàng trong cuộc đời.
Mùa đông năm đó, Bắc
phạt lần 2 mở màn, quân Thục đã có thắng lợi bước đầu, nhưng do quân
lương cạn kiện đành thoái lui trắng tay.
Năm sau, năm Kiến Hưng
thứ 7, Bắc phạt lần 3 tiếp tục, Gia Cát Lượng điều đại tướng Trần Thức
đánh Vũ Đô, Âm Bình của Nguỵ. Thứ sử Ung Châu của Nguỵ là Quách Hoài
dẫn quân nghênh chiến, Gia Cát Lượng cho Kiến Uy ra đấu, Quách Hoài rút
chạy, Lượng chiếm được Nhị quận. Bấy giờ, Hậu chủ ra chiếu phục chức
Thừa tướng cho Gia Cát Lượng. Nhưng trong lần Bắc phạt này cũng vẫn
không thấy bất cứ bóng dáng nào của Lý Nghiêm hay những nhân sĩ nòng
cốt của tập đoàn Đông Châu và Ích Châu. Tôi tin rằng bọn Lý Nghiêm
không thể không có ý kiến trong việc này.
Trong thời gian Gia Cát
Lượng Bắc phạt, Lý Nghiêm cũng không ngồi rỗi, mà tích cực liên lạc
ngầm với bộ tướng của Tào Nguỵ là Mạnh Đạt, nguyên là Long tướng nhà
Thục. Trong một bức thư ông ta từng khuyến dụ Mạnh Đạt thé này: “Ta và
Khổng Minh đều được ký thác, tình sâu nghĩa nặng, cách nghĩ gần gụi”.
Từ đó có thể thấy, ông luôn ghi tạc trong lòng địa vị chính trị quan
trọng của một đại thần được gửi gắm ngang hàng cùng Gia Cát Lượng, luôn
lấy đó làm nhiệm vụ của mình và vô cùng coi trọng nó. Nhưng trước sau
ba cuộc Bắc phạt quan trọng nhường ấy Gia Cát Lượng đều không có chút
biểu hiện gì cho ông tham dự vào. Có thế khẳng định rằng điều đó khiến
ông rất bất mãn, do vậy ngoài những biểu hiện lồ lộ như đòi “làm vương
quận đất Ba Châu” ra còn có những cách khác để tỏ rõ sự phản kháng của
mình đối với thái độ bài trừ của Gia Cát Lượng.
---------------
(12) “Tam quốc chí” “Thục thư” “Mã Lương truyện”
Tường Châu (Vietimes) dịch
phamlai ( theo vntimes )